Dinh dưỡng phòng bệnh tim mạch
Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm hút thuốc lá, thừa cân và béo phì, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường và lối sống ít vận động. Những người có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng xuất hiện các biến cố tim mạch sẽ cao hơn nhiều. Tuy nhiên, những yếu tố nguy cơ này có thể thay đổi và kiểm soát được, như ngừng hút thuốc lá, kiểm soát huyết áp, điều chỉnh rối loạn mỡ máu, kiểm soát cân nặng, tăng cường vận động… điều chỉnh chế độ ăn vẫn luôn là nền tảng trong việc phòng và điều trị bệnh. Theo các nghiên cứu cho thấy việc thay đổi số lượng cũng như thành phần các chất dinh dưỡng (chất đa lượng, chất vi lượng) có trong khẩu phần ăn đều có ảnh hưởng đến tăng hay giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch bao gồm các yếu tố sau:

Tổng năng lượng
Béo phì là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch, đồng thời sự phân bố mỡ trong cơ thể cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng, người béo bụng có nguy cơ cao nhất. Để đánh giá mức độ béo phì, người ta dựa vào chỉ số BMI (được gọi là chỉ số khối, tính bằng trọng lượng cơ thể chia cho bình phương chiều cao (kg/m2). Những người béo phì ảnh hưởng đáng kể tới suy tim, nguy cơ suy tim tăng gấp đôi ở những bệnh nhân béo phì (BMI lớn hơn hoặc bằng 30kg/m2) so với người không béo phì. Vì vậy giảm cân rất cần thiết đối với người béo phì và duy trì cân nặng ở mức BMI từ 18,5 - 24,9 kg/m2.

Có thể tính đơn giản như: lấy chiều cao (cm) trừ đi 100, rồi đem số còn lại chia 10 nhân 9. Ví dụ, một người cao 160 cm thì mức cân nên có là: (160 - 100)/ 10 x 9 = 54 kg.
Nếu ăn quá mức cần thiết sẽ dẫn đến béo phì, các bệnh về chuyển hoá, đái tháo đường, tăng huyết áp… Người ăn quá mức tiêu hao thì sẽ tăng cân, ngược lại ăn ít hơn mức tiêu hao thì sẽ bị giảm cân. Nếu năng lượng ăn cân bằng với năng lượng tiêu hao của cơ thể thì cân nặng sẽ ổn định.
Lương thực chính của người Việt Nam là gạo, tùy theo vùng miền còn có các loại lương thực khác như ngô (bắp) ở miền núi, cao nguyên; khoai ở đồng bằng; củ ở trung du, miền núi.
Lượng gạo hàng ngày ở người trưởng thành trung bình là 300 - 350g, tương đương khoảng 6 bát (chén) cơm. Nếu ăn ngô, 1 bắp ngô tương đương 1 bát cơm, vậy lượng ngô khoảng 6 bắp. Nếu là khoai khoảng 6 củ lớn mỗi ngày.
Chất béo (lipid)
Số lượng và loại chất béo đều quan trọng. Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng, tổng lượng chất béo nên từ 15 - 20% tổng năng lượng trong ngày. Tuy nhiên loại chất béo sử dụng quan trọng hơn tổng lượng chất béo. Chế độ ăn có nhiều a-xít béo no (có nhiều trong mỡ, bơ, thức ăn nhanh, thức ăn công nghiệp được chế biến ở nhiệt độ cao) làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.
Trong khi đó axít béo không no làm giảm nguy cơ này, chất béo chứa axít béo loại này được tìm thấy ở dầu mè, dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt bắp, cá, hải sản… Khi thay thế axít béo no bằng axít béo không no có tác dụng làm giảm nguy cơ tim mạch. Các chuyên gia khuyên mỗi tuần nên có 3 - 5 lần ăn cá, hải sản, thay thế cá cho thịt. Đối với những người không thích ăn cá và hải sản có thể sử dụng dầu cá thiên nhiên mỗi ngày 2 - 3g.

Chất đường (glucid)
Glucid gồm các loại chất bột, đường và chất xơ, là thành phần dinh dưỡng cơ bản, chiếm khối lượng lớn nhất và cung cấp năng lượng nhiều nhất trong khẩu phần ăn. Thay thế axít béo no bằng lượng năng lượng từ axít béo không no hoặc glucid đều có tác dụng tốt để giảm nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch. Nguồn glucid trong thực phẩm: Gạo tẻ, khoai củ tươi, mì sợi, bánh mì, khoai củ khô; bột khoai khô; bánh phở; sắn tươi; bún; miến …
Chất đạm (protid)
Đạm thực vật có những ảnh hưởng có lợi cho sức khỏe so với đạm động vật, đặc biệt liên quan với tình trạng cholesterol máu. Các loại đậu. Những loại thực phẩm thuộc họ đậu như đậu xanh, đậu đỏ, đậu phộng… Rau có màu xanh đậm (như cải bó xôi, bông cải xanh) rất giàu đạm.
Những nước dùng đạm đậu nành cao có tỉ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nước ăn nhiều đạm động vật. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo: để giảm các nguy cơ của bệnh tim mạch nên ăn các loại chế phẩm từ đậu nành như: Đậu phụ, giá đậu, nước đậu,…
Chất xơ (fiber)
Một số thành phần xơ có khả năng giữ nước cao và được gọi là xơ tan. Xơ tan có trong các loại thực phẩm như một số trái cây, nước trái cây (mận, quả mọng), bông cải, cà rốt, khoai tây, khoai lang, hành. Xơ tan có khả năng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Ngoài ra, chất xơ còn gây cảm giác no giúp tránh ăn quá nhiều năng lượng gây tăng cân.
Các vi chất dinh dưỡng
Các vi chất dinh dưỡng như các vitamin và khoáng chất rất cần cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể. Khi thiếu vitamin B12, B6, axít folic làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch máu. Nhưng trong chế độ dinh dưỡng hiện nay, hầu hết còn chưa cung cấp đủ các vi chất, vì thế cần được bổ sung các thực phẩm giàu vitamin (từ rau và trái cây).
Ngoài ra các chất chống ôxy hóa cũng ảnh hưởng đến quá trình xơ vữa động mạch. Chế độ ăn có nhiều chất chống ôxy hóa (vitamin E, vitamin A, vitamin C, selen) có thể giảm tới 20 - 40% nguy cơ bệnh mạch vành.
Bên cạnh đó các muối khoáng vô cùng quan trọng trong chế độ dinh dưỡng, nhất là trong tim mạch. Natri (từ muối ăn) và các chất điện giải khác đều ảnh hưởng đến huyết áp. Khoảng 50% người tăng huyết áp có nhạy cảm với muối. Giảm lượng natri giúp phòng ngừa chứng tăng huyết áp và cũng được xem như một phương pháp điều trị bệnh tăng huyết áp. Khuyến cáo gần đây khuyên nên hạn chế lượng muối ăn vào dưới 6g/ngày bằng cách chọn những thức ăn ít muối và hạn chế ăn thức ăn đóng hộp, không ăn kèm muối khi ăn, ví dụ như khi ăn trái cây…
Ngược lại, kali, magiê, canxi liên quan nghịch với huyết áp. Chế độ ăn đủ các vi chất này giúp làm giảm huyết áp. Để tăng cường các chất điện giải này bằng cách tăng cường ăn lượng rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, và các sản phẩm làm từ sữa ít béo.
Béo phì: Hệ quả của lối sống hiện đại
Nhân ngày Thế giới phòng chống béo phì (4/3), chúng tôi đã có buổi trao đổi với Bác sĩ Vũ Bảo Tú – khoa Phòng, chống bệnh không lây nhiễm và Dinh dưỡng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh để giúp độc giả hiểu rõ hơn về “cuộc chiến” chống lại mỡ thừa thông qua chế độ dinh dưỡng và vận động khoa học.
Những bước chân không mỏi: CHUYỆN VỀ NHỮNG “THỢ SĂN KẺ GIẾT NGƯỜI THẦM LẶNG”
5 giờ sáng tại Trạm Y tế xã Đồng Văn (huyện Bình Liêu cũ), trong khi sương mờ còn giăng lối, không khí đã bắt đầu sôi động bởi tiếng bước chân tất bật và tiếng lách cách của thiết bị y tế. Đó không phải là một buổi sáng ngoại lệ mà là nhịp sống quen thuộc của những cán bộ Khoa Phòng chống bệnh không lây nhiễm và Dinh dưỡng (KLN&DD), CDC Quảng Ninh trong hành trình đi tìm những “kẻ giết người thầm lặng”.
“Bẫy” muối trên mâm cỗ ngày Xuân: Lời cảnh báo cho sức khỏe
Tết là dịp của sum vầy của những mâm cơm đoàn viên đầy ắp hương vị truyền thống. Tuy nhiên, đằng sau sự hấp dẫn của bánh chưng, giò chả, dưa hành là một “kẻ thù thầm lặng” đối với sức khỏe tim mạch: lượng muối dư thừa. Các chuyên gia y tế cảnh báo, việc vô tình rơi vào “bẫy muối” trong thực phẩm ngày Tết là nguyên nhân hàng đầu khiến tình trạng tăng huyết áp và các bệnh lý tim mạch gia tăng đột biến sau kỳ nghỉ lễ.
Hưởng ứng Ngày Thế giới Phòng chống Ung thư 4/2: Hành động vì một tương lai không bệnh tật
Mỗi năm vào ngày 4/2, Liên minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế (UICC) lại phát động chiến dịch toàn cầu nhằm thắt chặt sự phối hợp giữa các chính phủ và cộng đồng trong cuộc chiến chống lại ung thư.
Vui xuân không quên đo huyết áp
Tăng huyết áp từ lâu đã được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” bởi diễn biến âm thầm nhưng lại là nguyên nhân hàng đầu gây ra các biến cố tim mạch nguy hiểm như đột quỵ não, nhồi máu cơ tim. Thực tế cho thấy, tỷ lệ các ca cấp cứu liên quan đến tim mạch và huyết áp thường có xu hướng gia tăng trong dịp Tết Nguyên đán. Nguyên nhân là do sự cộng hưởng của nhiều yếu tố bất lợi trong những ngày này.
Quảng Ninh: Nâng cao chất lượng nòi giống qua các giải pháp dinh dưỡng bền vững
Với mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và cải thiện tầm vóc cho thế hệ tương lai, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh đã triển khai quyết liệt các chương trình cải thiện dinh dưỡng trẻ em, mang lại những chuyển biến tích cực trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cơ sở.
CDC Quảng Ninh: Quyết liệt các giải pháp đẩy lùi tác hại của thuốc lá và rượu, bia
Nhằm hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ sức khỏe nhân dân và xây dựng môi trường sống văn minh, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh đã triển khai mạnh mẽ các giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu tác hại của rượu bia và thuốc lá. Những nỗ lực này không chỉ dừng lại ở con số mà còn tạo ra sự thay đổi tích cực trong nhận thức của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
CDC Quảng Ninh: Nỗ lực kiểm soát gánh nặng bệnh không lây nhiễm
Trước những thách thức của mô hình bệnh tật hiện nay, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tầm soát, quản lý các bệnh không lây nhiễm (BKLN) và cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho nhân dân, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng từ sớm, từ xa.
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Quảng Ninh học tập, chia sẻ kinh nghiệm phòng, chống tác hại của thuốc lá tại tỉnh Cao Bằng
Thực hiện Hợp đồng số 08/2025/HĐ-QPCTHTL-QN giữa Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh về triển khai các hoạt động phòng, chống tác hại thuốc lá (PCTHTL) năm 2025, từ ngày 29/10 đến 01/11/2025, đoàn công tác của CDC Quảng Ninh tổ chức chương trình học tập, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá tại tỉnh Cao Bằng.
Đặt lịch hẹn tư vấn!
Chuyên gia của chúng tôi sẽ liên hệ trực tiếp với bạn.
- Khám đa khoa tại CDC: Một điểm đến – nhiều dịch vụ, bảo vệ sức khỏe toàn diện từ sớm
- Khám sức khỏe định kỳ miễn phí: Đòn bẩy nâng cao chất lượng dân số tại Quảng Ninh.
- Tăng cường phòng, chống suy dinh dưỡng thấp còi nâng cao tầm vóc trẻ em Quảng Ninh
- Giải mã nguy cơ âm thầm: Nghiên cứu thực địa về bệnh sán lá gán nhỏ tại khu vực biên giới tỉnh Quảng Ninh
- Dự kiến tăng lương cơ sở từ 1/7/2026: Ngành Y tế Quảng Ninh sẽ được điều chỉnh ra sao?
- TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG HAY DỊCH VỤ: ĐÂU LÀ LỰA CHỌN TỐT NHẤT CHO CON?

