ORS bù nước và chất điện giải như thế nào?
Cơ chế tác dụng của ORS
Con người khi tiêu hóa bình thường, chất lỏng chứa thức ăn và các dịch tiêu hóa đến hồi tràng chủ yếu dưới dạng một dung dịch muối đẳng trương giống huyết tương về hàm lượng chất natri và kali. Hồi tràng hấp thu khoảng 10% dung dịch này bằng các cơ chế vận chuyển tích cực khác nhau. Phần còn lại được bài tiết vào phân để giữ cho phân không bị khô. Các tế bào ruột non có chức năng vừa hấp thu vừa xuất tiết dịch và các chất điện giải nhưng chủ yếu là hiện tượng hấp thu. Trong trường hợp đi tiêu chảy cấp, nhiều tác nhân gây nhiễm làm thay đổi hoạt động ở niêm mạc ruột non, ức chế hấp thu hoặc kích thích xuất tiết. Một lượng lớn dịch xuất tiết ra không được đại tràng hấp thu hết và bị tống ra ngoài dưới dạng phân lỏng nhiều nước. Các loại muối chủ yếu và nước bị mất theo phân và chất nôn. Tình trạng mất nước bắt đầu ngay từ lần đầu đi phân lỏng. Khi mất dịch dưới 5% trọng lượng cơ thể thì dấu hiệu biểu hiện đầu tiên là khát nước. Nếu mất dịch trên 5% trọng lượng cơ thể thì các triệu chứng thường xuất hiện như nhịp tim nhanh, da nhăn, mắt trũng, hạ huyết áp, dễ bị kích thích, đi tiểu ít hoặc không có nước tiểu; có dấu hiệu khát nước nhiều, trạng thái tê mê hoặc hôn mê xuất hiện nhanh. Nếu lượng nước mất khoảng 10% trọng lượng cơ thể, người bệnh có thể bị sốc và nặng hơn có thể dẫn đến tử vong.

Thực tế trên lâm sàng đối với người bệnh bị tiêu chảy cấp, chỉ định đầu tiên và quan trọng nhất là phải bù nước và các chất điện giải. Nước và các chất điện giải bị mất do tiêu chảy có thể được bù lại bằng cách uống dung dịch có chứa natri, kali và glucose hoặc carbohydrat như bột gạo nhưng bắt buộc luôn luôn phải có thành phần glucose phối hợp với natri. Cơ chế duy trì hệ thống đồng vận chuyển glucose - natri trong niêm mạc ruột non là cơ sở của điều trị bù nước và các chất điện giải dạng uống. Glucose được hấp thu tích cực ở ruột bình thường và kéo theo natri được hấp thu theo tỉ lệ khoảng cân bằng phân tử. Do đó, sự hấp thu dung dịch muối đẳng trương có glucose tốt hơn là không có glucose. Tuy vậy, nếu dùng quá liều glucose hoặc sacarose để uống và tăng giá trị dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có thể làm tăng nguy cơ tiêu chảy do tác dụng thẩm thấu của glucose chưa hấp thu còn ở trong ruột. Dung dịch uống bù nước và chất điện giải có tinh bột gạo tốt hơn có glucose. Khi bột vào cơ thể sẽ được thủy phân dần thành glucose và duy trì hệ thống vận chuyển glucose - natri. Công thức dùng tinh bột gạo còn có ưu điểm hơn do ít gây tác dụng thẩm thấu và cung cấp nhiều năng lượng hơn so với dung dịch điện giải có glucose. Việc bù chất kali trong tiêu chảy cấp đặc biệt quan trọng đối với trẻ em vì trẻ thường bị mất kali trong phân cao hơn người lớn. Bicarbonat hoặc citrat được thêm vào dung dịch uống bù nước và chất điện giải có tác dụng ngang nhau trong việc khắc phục nhiễm toan chuyển hóa do mất nước. Nếu việc điều trị được bắt đầu sớm trước khi chức năng thận bị tổn hại thì thận có khả năng bù bất kỳ mức độ nào của toan chuyển hóa và thiếu hụt kali. Nếu bồi phụ nước và chất điện giải ngay từ dấu hiệu tiêu chảy đầu tiên thì các tổn hại này sẽ bị ngăn chặn và các biện pháp mạnh như truyền dịch tĩnh mạch trở nên không cần thiết.
Có thể nói, ORS hay dung dịch oresol là loại thuốc bù nước và chất điện giải được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, sự hấp thu natri và nước của ruột được tăng lên bởi glucose và các carbohydrat. Vì vậy, ORS được chỉ định dùng để phòng và điều trị mất chất điện giải và nước trong các trường hợp tiêu chảy cấp từ thể nhẹ đến thể vừa.
Điều cần thận trọng và trường hợp chống chỉ định
ORS hay dung dịch oresol cần thận trọng khi dùng cho người bệnh bị suy tim sung huyết, phù hoặc tình trạng giữ natri vì dễ có nguy cơ gây tăng natri huyết, tăng kali huyết, suy tim hoặc phù; người bệnh bị suy thận nặng hoặc xơ gan. Trong quá trình điều trị, cần theo dõi cẩn thận nồng độ các chất điện giải và thăng bằng kiềm toan. Lưu ý cần cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho uống nước giữa các lần uống dung dịch bù nước và chất điện giải để tránh tăng natri huyết. Dung dịch oresol có thể dùng an toàn cho phụ nữ mang thai và những người mẹ đang cho con bú sữa.
Chống chỉ định dùng dung dịch bù nước và chất điện giải trong các trường hợp bệnh nhân không có nước tiểu hoặc có nước tiểu ít vì thực tế cơ thể cần có chức năng thận bình thường để có thể đào thải bất lỳ lượng nước tiểu hoặc chất điện giải thừa. Người bệnh không có nước tiểu hoặc có ít nước tiểu kéo dài cần phải tiêm truyền nước và chất điện giải một cách chính xác, tuy nhiên tình trạng có ít nước tiểu nhất thời là một nét đặc trưng của mất nước do tiêu chảy nên trong trường hợp này không chống chỉ định liệu pháp bù nước bằng đường uống. Đồng thời cũng chống chỉ định dùng trong những trường hợp mất nước nặng kèm theo triệu chứng sốc vì bù nước bằng đường uống sẽ quá chậm mà thực tế cần phải điều trị nhanh chóng bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch. Ngoài ra, ORS hay dung dịch oresol không nên dùng trong trường hợp tiêu chảy nặng khi tình trạng tiêu chảy vượt quá 30 ml/kg cân nặng cơ thể mỗi giờ, người bệnh có thể không uống được đủ nước để bù lượng nước bị mất liên tục. Trường hợp bệnh nhân nôn nhiều và kéo dài, bị tắc ruột, liệt ruột, thủng ruột cũng chống chỉ định dùng dung dịch bù nước và chất điện giải.
Liều lượng và cách sử dụng
Phải hòa tan các gói hay viên sủi ORS với nước đun sôi để nguội để có dung dịch oresol theo hướng dẫn cụ thể được ghi trên từng loại chế phẩm, sau đó cho người bệnh uống dung dịch đã pha theo liều lượng quy định. Để bù nước trong các trường hợp mất nước nhẹ bắt đầu cho uống 50ml/kg cân nặng trong 4 - 6 giờ, nếu mất nước vừa phải bắt đầu cho uống 100ml/kg cân nặng trong vòng 4 - 6 giờ. Sau đó điều chỉnh liều lượng và thời gian sử dụng tùy theo mức độ khát nước và đáp ứng với điều trị. Ở trẻ em nên cho uống từng thìa một, uống liên tục cho đến hết liều lượng đã quy định, không nên cho trẻ uống quá nhiều cùng một lúc vì sẽ gây nôn. Để duy trì nước trong trường hợp tiêu chảy liên tục nhẹ cho uống dung dịch với liều lượng 100 - 200mg/kg cân nặng/24 giờ cho đến khi hết tiêu chảy, nếu bị tiêu chảy liên tục nặng cho uống dung dịch với liều lượng 15ml/kg cân nặng mỗi giờ cho đến khi hết tiêu chảy. Đối với người lớn liều lượng giới hạn tối đa 1.000ml/giờ.
Lưu ý ở trẻ em nên tính liều lượng dùng theo trọng lượng cơ thể sẽ tốt hơn theo nhóm tuổi. Đối với trẻ nhỏ cần cho uống từng ít một, uống chậm và chia làm nhiều lần; nếu chưa đến 24 giờ mà trẻ đã uống hết 150ml dung dịch/kg cân nặng thì nên cho uống thêm nước bình thường để tránh tăng natri huyết và đỡ khát nước. Cần tiếp tục cho ăn uống bình thường càng sớm càng tốt khi bù lại được lượng dịch đã thiếu và khi có dấu hiệu thèm ăn trở lại, đặc biệt những đứa trẻ bú sữa mẹ cần phải được bú sữa giữa các lần uống dung dịch. Nên cho người bệnh ăn kèm các loại thức ăn mềm như cháo gạo, chuối, đậu, khoai tây hoặc các thức ăn nhiều bột nhưng không có lactose.
Chú ý tránh dùng các loại thức ăn hoặc dung dịch khác chứa chất điện giải như nước quả hoặc thức ăn có muối cho tới khi ngừng điều trị để hạn chế dùng quá nhiều chất điện giải hoặc xảy ra tình trạng tiêu chảy do hiện tượng thẩm thấu. Một vấn đề cũng cần được quan tâm là dung dịch bù nước và chất điện giải oresol không được pha loãng thêm với nước vì nếu pha loãng sẽ làm giảm tính hấp thu của hệ thống đồng vận chuyển glucose - natri. Nên bảo quản ORS dạng bột hay viên sủi chưa pha thành dung dịch ở nơi thoáng mát ở nhiệt độ dưới 30oC. Dung dịch đã pha cần được bảo quản trong tủ lạnh để dùng tối đa trong vòng 24 giờ, sau đó phải bỏ đi không được dùng nếu lượng dung dịch còn trong ngày.
Nếu dùng quá liều lượng quy định với ORS pha đậm đặc, dung dịch bù nước và chất điện giải oresol sẽ gây nên triệu chứng quá liều gồm: tăng natri huyết làm hoa mắt, chóng mặt, tim đập nhanh, tăng huyết áp, cáu gắt, sốt cao... và dấu hiệu thừa nước như mi mắt húp nặng, phù toàn thân, suy tim. Trong trường hợp này cần điều trị tình trạng tăng natri huyết bằng cách truyền tĩnh mạch chậm dung dịch nhược trương và cho uống nhiều nước, nếu có hiện tượng thừa nước phải ngừng uống dung dịch bù nước và chất điện giải, đồng thời sử dụng thuốc lợi tiểu nếu cần.
Mặc dù việc sử dụng ORS dạng bột hay viên sủi để pha dung dịch oresol nhằm xử trí bù nước và chất điện giải trong các trường hợp bị tiêu chảy cấp ở mức độ nhẹ và vừa khá phổ biến nhưng cộng đồng cần phải có những hiểu biết cần thiết trước khi dùng để bảo đảm tính an toàn, hiệu quả, nhất là đối với trẻ em. Phải quan niệm rằng ORS hay dung dịch oresol là một loại thuốc, vì vậy nên lưu ý đến những điều cần thận trọng và các trường hợp chống chỉ định cũng như liều lượng sử dụng hợp lý để đạt được kết quả điều trị tốt.
Bệnh Não Mô Cầu và Cách Phòng bệnh
Bệnh não mô cầu do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây nên. Đây là loại vi khuẩn có thể cư trú trong vùng mũi – họng của người lành mà không gây bệnh, nhưng khi cơ thể yếu hoặc điều kiện thuận lợi, chúng có thể xâm nhập vào máu, lên não, gây viêm màng não mô cầu.
Phòng bệnh cúm mùa hiệu quả cùng Phòng tiêm chủng vắc xin dịch vụ CDC Quảng Ninh
Hiện nay, tình hình cúm mùa, đặc biệt là cúm A, đang gia tăng tại nhiều địa phương trên cả nước. Nhiều trường hợp phải nhập viện, trong đó có trẻ nhỏ và người cao tuổi – nhóm có nguy cơ cao gặp biến chứng như viêm phổi, viêm tai giữa…
BỆNH CHIKUNGUNYA LÀ GÌ? NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ PHÒNG NGỪA
Virus Chikungunya (CHIKV) lây truyền qua vết muỗi đốt, triệu chứng thường xuất hiện sau 3-7 ngày nhiễm virus, có thể nhanh chóng trở nặng nếu không kịp thời điều trị. WHO đã đưa ra lời kêu gọi hành động để ngăn chặn sự lây lan truyền dịch bệnh.
CDC Quảng Ninh điều tra dịch tễ bệnh ký sinh trùng tại 02 xã vùng sâu, vùng xa
Trong khuôn khổ Kế hoạch phòng, chống bệnh ký sinh trùng giai đoạn 2023–2025 của tỉnh Quảng Ninh, từ ngày 14 đến 27/7/2025, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh đã tổ chức đợt điều tra phân vùng dịch tễ học bệnh ký sinh trùng tại hai địa phương miền núi là xã Ba Chẽ và xã Kỳ Thượng. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm nhằm chủ động phát hiện, giám sát, quản lý và điều trị sớm các bệnh lý ký sinh trùng thường gặp, bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại các khu vực còn nhiều khó khăn.
CDC Quảng Ninh triển khai điều tra phân vùng dịch tễ bệnh ký sinh trùng năm 2025
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng trên địa bàn tỉnh, từ ngày 19/5 đến 01/6/2025, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh triển khai kế hoạch điều tra phân vùng dịch tễ bệnh ký sinh trùng tại thị trấn Cô Tô và xã Đồng Tiến.
Tăng cường điều tra thu thập chuột, giám sát bọ chét
Từ ngày 20/5 đến ngày 25/5/2025, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương phối hợp với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh tổ chức điều tra thu thập chuột, giám sát bọ chét, động vật y học tại cộng đồng.
Cảnh báo gia tăng ca mắc bệnh tay chân miệng ở trẻ nhỏ
Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2025, cả nước ghi nhận gần 15.000 ca mắc tay chân miệng. Số ca mắc tăng mạnh từ tháng 3, riêng tháng 4 bằng tổng hai tháng trước cộng lại. Đáng chú ý trong số đó có đến 98,6% là trẻ dưới 10 tuổi, đặc biệt nhóm trẻ từ 1-5 tuổi (đi nhà trẻ, mẫu giáo) chiếm tới 93,4%.
Chủ động phòng chống để giữ vững thành quả loại trừ sốt rét tại Quảng Ninh
Nước ta vốn nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, nhiều cây xanh nên rất phù hợp cho sự phát triển của muỗi. Đây là loài vật gây lây truyền bệnh sốt rét, một căn bệnh từng là nỗi sợ hãi cho nhiều thế hệ người Việt Nam. Ngày nay, với những tiến bộ trong lĩnh vực y học dự phòng và điều trị, số người mắc bệnh và tử vong do sốt rét đã giảm đi nhiều. Tuy nhiên, sốt rét vẫn là một bệnh nguy hiểm, dễ mắc nếu di chuyển qua vùng dịch. Vì vậy, mỗi người đều không nên chủ quan.
Hưởng ứng Ngày Nước thế giới (22/3) năm 2025: Bảo tồn các dòng sông băng
Ngày Nước thế giới (22/3) năm 2025 được Liên hợp quốc phát động ̣với chủ đề “Bảo tồn các dòng sông băng” (Glacier preservation) nhằm nâng cao nhận thức toàn cầu về vai trò quan trọng của sông băng, tuyết và băng trong hệ thống khí hậu và chu trình thủy văn của trái đất.
Đặt lịch hẹn tư vấn!
Chuyên gia của chúng tôi sẽ liên hệ trực tiếp với bạn.
- CDC Quảng Ninh tăng cường năng lực đấu thầu, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới
- Công đoàn Cơ sở CDC Quảng Ninh chăm lo Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 cho đoàn viên
- Chủ động nhận diện nguy cơ, củng cố giải pháp phòng, chống bệnh sán lá gan nhỏ tại Đặc khu Vân Đồn
- CDC QUẢNG NINH: TRAO TẶNG DANH HIỆU THI ĐUA, KHEN THƯỞNG CHO CÁC TẬP THỂ, CÁ NHÂN NĂM 2025
- Phòng, chống dịch bệnh do vi rút NIPAH (NiV) – Tăng cường giám sát có trọng điểm, chủ động từ cơ sở là điều kiện tiên quyết
- Khai mạc Giải Pickleball CDC Quảng Ninh lần thứ I chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam

